matkinh@longhoangthanh.vn 0905 772 234

152 Nguyễn Huệ, Phường Phú Nhuận, Thành Phố Huế

Cách sử dụng tròng kính nhựa chiết suất cao

Th12 04, 2021
Cách sử dụng tròng kính nhựa chiết suất cao

Tròng bạn chọn cho kính đeo thường ảnh hưởng đến mức độ bạn hài lòng với mắt kính của mình — thậm chí hơn cả gọng kính.

Và mua tròng kính đeo không phải nhiệm vụ dễ dàng. Trên thực tế, trên một số phát hành gần đây, tạp chí Consumer Reports đã thông tin, “Có quá nhiều lựa chọn đối với tròng kính và lớp phủ, thật dễ để bạn trở lên mơ hồ không biết loại nào đáng mua.”

Hướng dẫn mua này sẽ giúp bạn hiểu được sự thổi phồng về các loại tròng kính đeo khác nhau và giúp bạn chọn được tròng kính cũng như lớp phủ mang lại những tính năng tốt nhất và phù hợp với nhu cầu của bạn.

Tại sao chọn đúng tròng kính đeo lại quan trọng đến vậy

Khi mua kính đeo, gọng bạn chọn quan trọng với cả hình thức lẫn sự thoải mái khi bạn đeo kính. Nhưng tròng kính bạn chọn lại ảnh hưởng đến bốn yếu tố: hình thức, sự thoải mái, thị lực và độ an toàn.

Một sai lầm phổ biến mà mọi người thường mắc phải khi mua kính đeo là không dành đủ thời gian để cân nhắc giữa các lựa chọn về vật liệu của tròng kính, thiết kế cũng như lớp phủ.

Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn những thông tin cơ bản bạn cần biết để mua tròng kính một cách khôn ngoan.

Thông tin dưới đây áp dụng cho tất cả các tròng kính kê đơn cho kính đeo — dù bạn cần tròng kính một tròng để điều chỉnh cận thị, viễn thị, và/hoặc loạn thị, hay bạn cần tròng kính đa tròng, tròng kính hai tròng hoặc các tròng nhiều độ khác để điều chỉnh lão thị.

Vật liệu tròng kính đeo – tính năng và lợi ích

Tròng kính đeo
Vào thời kỳ điều chỉnh thị lực đầu tiên, mọi tròng kính đeo đều được làm bằng thủy tinh.

Mặc dù tròng kính thủy tinh mang lại thị giác tuyệt vời, nhưng chúng nặng và có thể dễ vỡ, tiềm ẩn nguy cơ gây ra tổn thương nghiêm trọng cho mắt và thậm chí làm mất mắt. Vì những lý do này, tròng kính thủy tinh không còn được sử dụng rộng rãi cho kính đeo nữa.

Tròng kính nhựa

Vào năm 1947, Armorlite Lens Company ở California đã giới thiệu những tròng kính đeo bằng nhựa nhẹ đầu tiên. Các tròng kính được làm từ polymer dẻo có tên CR-39, viết tắt của “Columbia Resin 39,” bởi đây là công thức thứ 39 của nhựa xử lý nhiệt do PPG Industries phát triển vào đầu những năm 1940.

Do có trọng lượng nhẹ (khoảng một nửa so với thủy tinh), chi phí thấp và các đặc tính quang học tuyệt vời, nhựa CR-39 vẫn là vật liệu tròng kính phổ biến, thậm chí đến ngày hôm nay.

Tròng kính polycarbonate

Vào đầu những năm 1970, Gentex Corporation đã giới thiệu những tròng kính polycarbonate đầu tiên cho kính an toàn. Những năm sau của thập kỷ đó và vào những năm 1980, tròng kính polycarbonate trở lên phổ biến hơn và duy trì sự phổ biến đó đến ngày hôm nay.

Ban đầu được phát triển để làm mũ bảo vệ cho Không Lực Hoa Kỳ, làm “kính chống đạn” cho các ngân hàng và các ứng dụng an toàn khác, polycarbonate nhẹ hơn và chịu va đập nhiều hơn đáng kể so với nhựa CR-39, giúp nó trở thành vật liệu ưu tiên cho mắt kính của trẻ em, kính an toàn và mắt kính thể thao.

Một vật liệu tròng kính đeo nhẹ mới hơn có đặc tính chịu va đập tương tự polycarbonate có tên là Trivex (PPG Industries), đã được giới thiệu để làm mắt kính vào năm 2001. Một lợi thế về thị giác tiềm năng của Trivex là có chỉ số Abbe cao hơn (xem bên dưới).

Tròng kính nhựa chiết suất cao

Trong 20 năm qua, để đáp ứng nhu cầu về kính đeo mỏng hơn, nhẹ hơn, nhiều nhà sản xuất tròng kính đã giới thiệu tròng kính nhựa chiết suất cao. Loại tròng này mỏng và nhẹ hơn so với tròng kính nhựa CR-39 do chúng có chỉ số khúc xạ cao hơn (xem bên dưới) và cũng có thể có trọng lượng riêng thấp hơn.

Dưới đây là những vật liệu tròng kính mắt phổ biến, được sắp xếp theo thứ tự chỉ số khúc xạ và độ dày tròng kính (chỉ số chi phí khá tốt). Ngoại trừ thủy tinh cron, tất cả đều là vật liệu nhựa.

Chỉ số khúc xạ

Chỉ số khúc xạ của vật liệu tròng kính đeo là một con số thể hiện phép đo tương đối về hiệu quả khúc xạ (bẻ cong) ánh sáng của vật liệu, con số này phụ thuộc vào tốc độ di chuyển của ánh sáng qua vật liệu như thế nào.

Nói một cách cụ thể thì chỉ số khúc xạ của vật liệu tròng kính là tỷ lệ tốc độ ánh sáng trong chân không so với tốc độ ánh sáng trong vật liệu tròng kính.

Ví dụ: chỉ số khúc xạ của nhựa CR-39 là 1,498, nghĩa là ánh sáng di chuyển qua nhựa CR-39 đại khái chậm hơn 50 phần trăm so với qua chân không.

Chỉ số khúc xạ của vật liệu càng cao thì ánh sáng di chuyển qua nó càng chậm, và kết quả là tia sáng bị bẻ cong (khúc xạ) càng lớn hơn. Do đó, chỉ số khúc xạ của vật liệu tròng kính càng cao thì vật liệu tròng kính càng ít phải bẻ cong ánh sáng tới cùng độ như ở tròng kính có chỉ số khúc xạ thấp hơn.

Nói cách khác, với một độ tròng kính đeo cho trước, tròng kính được làm từ vật liệu có chỉ số khúc xạ cao sẽ mỏng hơn so với tròng kính được làm từ vật liệu có chỉ số khúc xạ thấp hơn.

Chỉ số khúc xạ của các vật liệu tròng kính hiện có dao động từ 1,498 (nhựa CR-39) đến 1,74 (một loại nhựa cụ thể có chiết suất cao). Do vậy, với cùng độ và thiết kế tròng kính theo đơn, tròng kính được làm từ nhựa CR-39 sẽ là tròng kính dày nhất, và tròng kính làm từ nhựa có chiết suất cao 1,74 sẽ là tròng kính mỏng nhất.

Chỉ số Abbe

Chỉ số Abbe (hay số Abbe) của một vật liệu tròng kính là thước đo khách quan về độ phân tán của tròng kính đối với các bước sóng khác nhau của ánh sáng khi ánh sáng đi qua nó. Các vật liệu tròng kính có chỉ số Abbe thấp sẽ có độ tán sắc cao, như vậy có thể gây ra quang sai màu dễ thấy — một lỗi quang học là các quầng màu quanh vật thể, đặc biệt là đèn.

Nếu có thì quang sai màu dễ thấy nhất là khi nhìn qua mép của tròng kính mắt. Quang sai màu ít thấy nhất khi nhìn thẳng qua vùng quang học trung tâm của tròng kính.

Chỉ số Abbe của vật liệu tròng kính dao động từ cao là 59 (thủy tinh cron) đến thấp là 30 (polycarbonate). Số Abbe càng thấp thì vật liệu tròng kính càng có nhiều khả năng gây ra quang sai màu hơn.

Số Abbe được đặt theo tên của nhà vật lý người Đức Ernst Abbe (1840-1905), người đã xác định số đo về đặc tính quang học hữu ích này.



Các bài viết cùng chủ đề

0905.772.234